Chào mừng bạn đến với Câu lạc bộ Việt - Séc tại Nam Định

Quy y tam bảo

Thứ sáu - 04/01/2019 06:34

Đạo Phật là đạo từ bi, cứu khổ ban vui, mang đến nếp sống hạnh phúc thật sự cho con người hiện tại. Cuộc đời của Đức Thế Tôn là một minh chứng. Ngài ra đời là vì sự an lạc và hạnh phúc chư thiên và nhân loại.
Đã hai mươi sáu thế kỷ trôi qua, đạo Phật vẫn tiếp tục mang thông điệp cứu khổ và đem vui đến cho biết bao nhiêu tâm hồn, bao nhiêu dân tộc và đất nước.
Đạo Phật được hình thành qua hình thức là Phật, Pháp và Tăng (Tam Bảo: ba viên ngọc quý).

QUY Y TAM BẢO
Tam Quy nghĩa là trở về nương tựa Phật, Pháp và Tăng. Muốn trở về nương tựa thì ta phải tìm hiểu về ý nghĩa Tam Bảo và từ đó chúng ta ý thức và phát nguyện nương về Tam Bảo. Có hai loại Tam Bảo:
1) ĐỒNG THỂ TAM BẢO: Phật-Pháp-Tăng có mặt trong khắp mười phương thế giới và cùng với ta đồng một thể chất.
Thế nên, hôm nay quay về phát nguyện ‘quy y Tam Bảo’ là quay về nương tựa thể tánh luôn thức tỉnh, sáng suốt trong ta (Phật). Quay về nương tựa khả năng khai mở và phát triển hiểu biết, bình đẳng, từ bi trong ta (pháp). Quay về nương tựa khả năng biết tu tập thanh tịnh và hòan thiện trong ta (tăng).
2) XUẤT THẾ GIAN TAM BẢO: Đức Phật Thích Ca, Di Đà, Dược Sư và cùng vô số mười phương chư Phật là những bậc đã thoát khỏi sự chi phối và ràng buộc của thế gian thường tình (Phật). Lý duyên khởi, Bốn Chân lý về Sự thật, Tám con đường Chân chánh... là những phương pháp có công năng chuyển hoá ra khỏi tam giới (pháp). Các bồ tát như Ngài Văn Thù Sư Lợi,Phổ Hiền, Quan Thế Âm hay các thánh tăng như Ma Ha Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, A Nan... là những bậc thực nghiệm pháp xuất thế gian và được kết quả là ra khỏi sự ràng buộc chi phối của thế gian.
Chúng ta phải tin Phật, tin Pháp và tin Tăng, bởi niềm tin là cửa ngỏ đi vào đạo. Và niềm tin ấy được thiết lập trên sự quán tưởng và suy nghĩ khách quan và khoa học của chính mình.
TIN PHẬT: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là nhân vật có thật trong lịch sử. Ngài không phải là Thượng đế hay Đấng thiêng liêng, Đấng tạo hoá. Ngài chỉ là một con người nhưng hơn con người vì Ngài đã phấn đấu chuyển hoá được nội tâm và để lại kinh nghiệm giác ngộ cho chúng ta từ chính bản thân Ngài. Phật là bậc giác ngộ hay bậc tỉnh thức, có khả năng đưa đường chỉ lối cho ta trong cuộc đời.
Kinh Tương Ưng Sakka (11.3) định nghĩa Đức Phật có mười danh hiệu là:
“Bậc Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật và Thế tôn.”
 (Itipi so Bhagavà Araham Sammàsam- buddho Vijjàcaranasampanno Sugato Lokavidù Anuttaro Purisadammasàrathi Satthà devamanussànam Buddho Bhagavàti).
Mười hồng danh Phật nhiệm mầu:
Ứng cúng theo tâm cầu chúng sanh, Chánh biến tri lý tột tỏ tường,
Minh hạnh túc: Tri-Hành đôi cánh, Ðấng Thiện thệ thiện xảo hiện bày, Thế gian giải chỉ bày Tục đế,
Vô thượng sĩ pháp âm tối thượng, Trượng phu Ðiều ngự khắp muôn nơi, Thiên nhân sư mô phạm sáng ngời, Phật đà tỉnh thức, Thế tôn trời người.
Chúng ta cũng có thể hiểu rằng về sự, Phật là đấng giác ngộ tại Bồ-đề-đạo-tràng và đã nhập Niết bàn tại Câu-thi-na, nhưng về lý thì Phật ở khắp nơi, chỗ nào có sự tỉnh thức, có tình thương, có từ bi hỷ xả hiện tiền, có chân lý hiện hữu, là có Phật ở ngay đó. Thế nên, bất cứ ai chỉ trong một niệm thức tỉnh, chánh niệm quay về hiện tại, phát tâm Bồ Đề, tinh tấn không để bóng tối vô minh che mờ, sai xử, chi phối thì ngay phút giây đó, người ấy đã là Phật, vì Phật là thức
tỉnh và chánh niệm.
Phật ở khắp nơi và biểu hiện qua sự sống trong tất cả con người, cho đến động vật, thiên nhiên (hữu tình và vô tình). Sự sống đó có mặt trong khắp không gian và thời gian, lan rộng rì rào trong gió, mây, hư không và khe đá; róc rách trong tiếng suối reo, xe chạy, chim hót, hoa nở, hoa tàn, trăng tròn, trăng khuyết... Thế nên, dưới lăng kính của các thiền sư tỉnh thức, giác ngộ, thì trúc biếc, hoa vàng, trăng trong, mây bạc đều là Phật tánh, đều ‘hiện toàn chân’:
Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác Trăng trong mây bạc hiện toàn chân.
(Túy trúc huỳnh hoa phi ngoại cảnh Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân)
(Thiền Lão Thiền Sư)
Sự sống của tánh Phật đó chuyển mình trong vũ trụ cao xa cũng như trong thâm tâm sâu kín. Nếu phản văn lắng nghe, chúng ta có thể nghe thấy tiếng nói của sự sống đó, tiếng của kiến tánh bất nhị, tiếng của Tánh biết, Tánh thức tỉnh nơi chính ta và vũ trụ xung quanh, vì thế trong câu phục nguyện chúng ta hay xướng “tình và vô
tình đồng thành Phật đạo” vì vốn thể tất cả đều là Phật, đều có Phật tánh, đều có hạt giống Phật. Hãy làm cho hạt giống Phật nẩy mầm, đơm hoa, kết quả (trưởng dưỡng thánh thai), đừng làm cho hạt giống đó bị vùi lấp, khô cằn. Đó là lý do mà Bồ tát Thường Bất Khinh trong kinh Pháp hoa mỗi khi thấy bất cứ ai, đều quỳ xuống lễ lạy mà nhắc rằng:
“Tôi không dám khinh các Ngài, vì các Ngài sẽ thành Phật.”
TIN PHÁP: Nguyên lý của vạn pháp và thực tướng của các pháp, là con đường chuyển hoá, con đường của tình thương và sự hiểu biết.
Kinh Tương Ưng Sakka (11.3) định nghĩa là:
“Ðây là Pháp do Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, vượt thoát thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, người trí nào cũng có thể tự mình thông đạt.”
(Svàkkhàto bhagavato dhammo sanditthiko akàliko ehipassiko opanayiko paccattam veditabbo vinnùhìti).
Pháp vi diệu, Thế Tôn khéo dạy, Vượt ngữ ngôn, sống chánh niệm,Vượt thời gian, biết hiện tại.
Sát na liễu ngộ, hạnh phúc hiện tiền, Ðường thức tỉnh, đến rồi thấy rõ,
Hướng thượng tâm, chuyển hoá vọng trần, Bậc trí sẽ tự mình nhận rõ,
Đạo tình thương, hiểu biết là đây.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh V, Như Lai, bậc thông rõ tánh tướng của vạn pháp, khéo giảng nói về Pháp vi diệu như sau:
“Cho đến khi nào, này các Tỳ kheo, Ta chưa có tri kiến như thật về khổ, nguyên nhân của khổ, khổ diệt và con đường đưa đến khổ diệt. Cho đến khi ấy, này các Tỳ kheo... Ta chưa tuyên bố Ta đã chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Và này các Tỳ kheo, cho đến khi nào, Ta đã có tri kiến như thật về khổ, nguyên nhân của khổ, khổ diệt và con đường đưa đến khổ diệt. Cho đến khi ấy, này các Tỳ kheo... Ta mới tuyên bố Ta đã chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.”
Và trong Tương Ưng Sakka (11.3), Đức Phật khẳng định ‘pháp chính là nơi nương tựa’ hãy sống nương theo con đường ấy:

“Không ai khác có thể là chỗ nương tựa cho ta. Ngoài ta, ngoài pháp chân chính mà ta đã chứng ngộ, ta hãy cung kính, đảnh lễ và sống y chỉ pháp ấy”.
Pháp đó là sống hiện tại lạc trú, chánh niệm, không truy tìm quá khứ hay viễn mộng tương lai. Vì hạnh phúc chính là hiện tại. Giây phút ta đang sống, đang thở, nhận tình thương và hiểu biết tại đây:
“Quá khứ không truy tìm, Tương lai không ước vọng, Quá khứ đã qua rồi, Tương lai thì chưa đến, Chỉ có pháp hiện tại, Tuệ quán chính ở đây...”
(Kinh Nhất dạ Hiền giả)
Trong kinh điển đại thừa, Pháp là chân lý, là pháp tánh và vượt mọi suy tưởng thường tình của chúng ta, vì thế có khi ‘pháp’ đó được thể hiện qua lý Bát Bất, Trung đạo:
“Không sanh cũng không diệt, không thường cũng không đoạn, không một cũng không khác, không đến cũng không đi.”
 (Bất sinh diệc bất diệt, Bất thường diệc bất
đoạn, Bất nhất diệc bất dị, Bất lai diệc bất xuất).
Hoặc pháp là lý duyên khởi:
“Do cái này có, thời cái kia có.
Do cái này không, thời cái kia không. Do cái này sinh, thời cái kia sinh.
Do cái này diệt, thời cái kia diệt.”
Nguyên lý là duyên sinh. Vì duyên sinh nên vô tướng. Vô tướng mà hiện ra vô lượng tướng. Đó là thật tướng của các pháp, vượt ra ngoài tám phạm trù đối đãi thường tình của sinh / diệt, thường / đoạn, một / khác và đến / đi ...
Đó là chân thật pháp. Vì chân pháp nên nên kinh Hoa Nghiêm nói là ‘nhất niệm thông tam giới,’ chỉ trong một niệm cũng dung thông cả tam giới. Hết thảy thời gian, không gian đều quy về một mối, nhập cuộc vào cái khoảnh khắc hiện tiền chánh niệm thức tỉnh uyên nguyên tròn đầy trong tâm ta. Một là tất cả và tất cả là một.
TIN TĂNG: Những vị xuất gia là những vị phát nguyện ra khỏi nhà thế tục, ra khỏi nhà phiền não đau khổ và ra khỏi nhà vô minh tăm tối. Tăng là đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời phạm hạnh và tỉnh thức như Đức Phật, nguyện thay Phật tuyên dương chánh pháp và đem đạo vào đời.
Kinh Tương Ưng Sakka (11.3) định nghĩa rằng: “Chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là bậc Thiện hạnh, là bậc Trực hạnh, là bậc Như lý hạnh, là bậc Chân Chánh hạnh; gồm bốn đôi, và tám vị thánh quả; là những vị xứng đáng được cung kính, xứng đáng được thân cận, xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được ngưỡng mộ; là ruộng phước quý hoá nhất trên đời.”
 (Supatipanno ujupatipanno
bhagavato bhagavato
sàvakasangho sàvakasangho sàvakasangho sàvakasangho
nàyapatipanno
sàmìcipatipanno
yadidam
atthapurisapuggalà esa
sàvakasangho àhuneyyo pàhuneyyo dakkhineyyo anjalikaranìyo anuttaram punnakkhettam lokassàti).
Chúng diệu hạnh, trưởng tử Thích Ca, Chúng trực hạnh, ngay thẳng liêm khiết, Chúng như lý hạnh, khéo uyển chuyển, Chúng chơn chánh hạnh, tuôn lời gấm hoa, Đệ tử Phật: bốn đôi, tám chúng,
bhagavato bhagavato
cattàri
purisayugàni bhagavato
Bậc mô phạm ứng cúng tôn nghiêm,
Cung nghinh kính lễ trọn đời,
Tăng chúng vô thượng, phước điền thế gian.
Chư tăng còn được gọi là “Chúng trung tôn,” nghĩa là người đáng được tôn kính và cúng dường vì “kính Phật” thì “trọng Tăng.” Tăng chúng là những vị nguyện sống theo pháp Lục Hòa. Sáu pháp hòa hợp này như dầu thoa vào máy, khiến Phật sự của Tăng-già được trôi chảy tốt đẹp. Sáu pháp đó là:
1) Thân hòa đồng trú: Thân sống hòa thuận tại một nơi cùng các bậc đồng phạm hạnh khác.
2) Khẩu hòa vô tránh: Miệng nói lời hòa thuận, không tranh cãi, to tiếng, nhiều lời, chỉ nói đúng sự thật.
3) Ý hòa đồng duyệt: Tư tưởng hòa thuận vui vẻ với các bạn đồng tu.
4) Giới hòa đồng tu: Tuân theo các luật cấm của Phật để tu sửa thân tâm trong niềm hòa ái với mọi người, vui vẻ nhắc nhở nhau cùng giữ giới cho thanh tịnh.
5) Kiến hòa đồng giải: Có những hiểu biết chân chính, xác thực về đường lối tu hành thì mang ra giải thích cho các bạn tu cùng nghe và
hiểu.
6) Lợi hòa đồng quân: Những tặng phẩm như tịnh tài, thực phẩm, quần áo, thuốc men, sách vở, chăn nệm... của thí chủ cúng dường thì bình đẳng phân chia trong sự hòa thuận an vui.
Chư tăng là những người sống theo sáu phép Hòa kính, trên thuận dưới hòa và là đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời phạm hạnh (tức là giữ giới rồi) và viễn ly. Nếu những ai thọ dụng của đàn na tín thí và thường trụ Tam Bảo mà không nỗ lực tu học trọn vẹn, thì họ sẽ đón nhận quả báo không tốt về họ qua câu chuyện các Thạch nữ như sau:
Hoàng hậu Mạt Lợi, vợ vua Ba Tư Nặc (một vị vua vào thời Đức Phật còn tại thế) mỗi lần đi nghe Phật thuyết pháp, thường ngồi kiệu do bốn cô thạch nữ khiêng (thạch nữ là gái đá, nghĩa là người có thân thể lạnh lùng như đá, không có dục tính và tánh tình thô bạo). Một hôm hoàng hậu bạch Phật vì sao bốn người này chung nghiệp làm thạch nữ? Đức Phật liền dạy:
“Một kiếp nọ có bốn vị Bà la môn (đạo Hindu của Ấn độ) xuất gia theo Phật nhưng lười biếng chẳng chịu tu hành. Họ lên kế hoạch với nhau, ba người ngồi dưới gốc cây giả dạng nhập thiền, còn người thứ tư vào thành rao lên rằng có ba vị A La Hán đã đắc quả, ai cúng dường thì được phước báu vô lượng, với ý muốn nhận nhiều của cúng dường.
Nghe tin, dân chúng kéo đến cúng dường rất đông, do đó bốn người được đầy đủ cả tứ vật dụng (thực phẩm, thuốc men, toạ cụ và y bát). Trong số thí chủ đó, có một bà già nghèo khổ, làm lụng khó nhọc mới có đủ cơm ăn, nhưng ngày nào cũng chịu nhịn một bát cơm để cúng dường bốn vị này và xin quy y với các bậc này, xem họ như Thầy, hầu hạ, quét dọn hết lòng cung kính.
Do phước báu đó, kiếp này (thời Phật Thích Ca) bà được làm Hoàng hậu (vợ vua Ba Tư Nặc) quyền quý xinh đẹp. Còn bốn vị tăng tu hành giả dối thì tái sinh làm bốn thạch nữ khiêng kiệu hầu bà để trả nợ kiếp trước.
Nghe Phật nói xong, Hoàng hậu sợ quá, không dám bắt bốn vị Thầy cũ của mình ở kiếp trước phải khiêng kiệu, hầu hạ cực nhọc, mà cho họ được tự do, thoát vòng đày tớ hầu hạ. Nhưng được tự do, bốn người thạch nữ lại không sao kiếm được miếng ăn, vì dân chúng chẳng ai muốn mướn họ. Bị đói khát, họ lại đến xin Hoàng hậu cho tiếp tục khiêng kiệu như trước.
Thế nên chư Tăng cần phải quán chiếu về sự thọ nhận cúng dường và phải tinh tấn tu hành để đáp lại công ơn của thí chủ, nếu không thì sẽ chịu quả báo.Và các Phật tử cũng thế không nên lạm dụng của Tam bảo mà sao này mắc nợ. Dân gian có câu: Của chùa lấy một, ngày sau đền mười.
Đức Phật và chư Tổ luôn luôn nhắc nhở chúng ta, nhất là chúng xuất gia phải tu hành tinh tấn, trên cầu đạo giải thoát, dưới cứu khổ muôn loài, sống cuộc đời buông xả, coi thất tình (hỷ, nộ, ái, ố, xưng, cơ, hỷ lạc), lục dục (tài, sắc, danh, lợi, thực phẩm và ngủ nghỉ) như đôi dép bỏ. Ngày đêm nhớ luật vô thường, vô ngã, khổ và không. Cần tinh tấn sửa mình như lửa cháy đầu, chớ có buông lung.
Chúng ta cũng có thể tìm thấy Phật qua hình bóng các vị chư Tăng (đầu tròn áo vuông) tu hành chân chánh, giới đức tròn đầy. Các vị ấy là Trưởng tử của Như Lai, đại diện cho Phật để chúng ta có chỗ quy ngưỡng. Đó là về sự. Đứng về lý thì Tăng là sự thanh tịnh, hòa hợp, nhu nhuyễn, là lý tưởng của cuộc đời giải thoát.
  
Suu tầm: Nguyễn Thế Minh 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây